Cùng nghe huyền thoại về ao Bà Om

Thứ tư - 25/01/2017 07:26
Nói đến Trà Vinh thì người ta nghĩ ngay đến ao Bà Om, đây là nơi tổ chức các lỗ hội hằng năm của người dân tộc Khmer như Chol-chnam-thmay, Dol-ta, Ok-om-bok.
Ao Bà Om là một thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng ở tỉnh Trà Vinh, thuộc khóm 3, phường 8 thành phố Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành), cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7 kilomet dọc theo quốc lộ 53 về phía Tây Nam. Ao có hình chữ nhật, rộng 300 met, dài 500 met (vì gần với hình vuông nên còn được gọi là Ao Vuông). Ao được bao bọc xung quanh bởi các gò cát mấp mô với các hàng cây sao, cây dầu cổ thụ hàng trăm năm tuổi có rễ nổi lên khỏi mặt đất tạo nên những hình thù kì lạ. Mặt nước ao trong xanh và phẳng lặng được phủ bởi hoa sen, hoa súng.
 
abo 01
Một góc ao Bà Om
 
abo 02
Con đường mòn xung quanh hồ
 
abo 03
Rễ những gốc cây cổ thụ xung quanh hồ - ảnh 01
 
abo 04
Rễ những gốc cây cổ thụ xung quanh hồ - ảnh 02
 
abo 05
Rễ những gốc cây cổ thụ xung quanh hồ - ảnh 03
 
abo 06
Rễ những gốc cây cổ thụ xung quanh hồ - ảnh 04
 
abo 07
Rễ những gốc cây cổ thụ xung quanh hồ - ảnh 05
 
abo 08
Người đến tham quan ao Bà Om
 
abo 09
Nơi lý tường dành cho các sinh viên học sinh
 
Ao Bà Om có những câu chuyện kể rất gần gũi. Một trong những truyện dân gian kể rằng: Ngày trước, vùng đất Trà Vinh hằng năm cứ đến mùa hạn thì nước ngọt rất khan hiếm. Ruộng rẫy khô cằn, cây cỏ vàng úa. Đời sống bà con vùng đất này lầm than khôn cùng. Một ông hoàng trấn nhậm trong vùng bèn quy tụ bà con lại để đào ao giữ nước ngọt. Cùng lúc đó, trong vùng xảy ra một vụ “tranh chấp” khó giải quyết: đàn ông và đàn bà, ai phải đi cưới ai? Ai phải chịu mọi phí tổn trong lễ cưới? Ông hoàng nhân dịp này chia ra hai bên nam nữ tổ chức một cuộc thi đào ao. Ao bên nào đào sâu hơn, lớn hơn và xong trước thì sẽ thắng cuộc, bên thua sẽ phải đi cưới. Trời vừa tắt nắng, hai bên chia nhau đào ao. Bên nam thì đào ao tròn ở phía Tây còn bên nữ đào ao vuông ở phía Đông. Bên nữ do bà Om chỉ huy, thấy không thể kình được sức đàn ông nên bên nữ dùng “kế”: Họ vừa đào vừa ca múa để các chàng bỏ việc mà chạy sang rình xem. Nửa đêm, bà Om cho chặt một cây tre thật dài, treo ngọn đèn lồng rồi đem cắm ở hướng Đông. Theo giao hẹn là khi sao Mai mọc là phải ngừng công việc, khi bên nam thấy ngọn đèn tưởng là sao Mai nên họ rủ nhau về nghỉ. Trong lúc đó bên nữ đào đến sáng và xong việc trước. Bên nam thua cuộc trong sự “tâm phục, khẩu phục”. Để nhớ ơn người phụ nữ mưu trí, người ta lấy tên bà đặt tên ao, từ đó ao phụ nữ đào được gọi là ao Bà Om.

Cũng giải thích tên gọi ao Bà Om còn có một câu chuyện: Xưa kia, có một vị hoàng tử tên là Pa-tu-ma-vong trấn nhậm vùng đất Trà Vinh rất độc đoán. Ông bắt dân chúng phải dâng gái đẹp cho ông ta, ai bất tuân sẽ bị trừng trị nặng. Ông ta còn bắt đàn bà phải đem lễ vật đi cưới đàn ông. Một cô gái xinh đẹp đến bày tỏ sự bực dọc với hoàng tử. Vì bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của cô gái nên hoàng tử cho mở một cuộc thi đào ao, bên đào xong trước sẽ thắng cuộc, được bên thua đi cưới, để làm “vừa lòng” người đẹp. Sau đó, mọi chuyện diễn ra như truyện kể trên.

Một dị bản ít người biết là: Ông Lũy và bà Om ở với nhau có một đứa con, cuộc sống rất đầm ấm nhưng họ cứ băn khoăn không biết đặt tên cho con theo họ cha hay họ mẹ. Ông Lũy và bà Om thi nhau làm công việc: Ông Lũy đắp lũy còn bà Om đào ao. Nhờ cần cù, làm việc không ngơi nghỉ nên bà Om thắng, đứa con được theo họ mẹ. Đó là tục lệ lâu đời của người Khmer, mãi đến thời Pháp cai trị, người Khmer mới lấy họ cha. Người dân ở ao Bà Om còn cho biết: bờ lũy mà ông Lũy đắp cách ao Bà Om khoảng 5km về phía Tây, hiện là một con đường nông thôn.

Còn có một truyền thuyết khác: Ngày xưa, có một hoàng tử cùng em gái trấn nhậm vùng đất Trà Vinh xưa. Hoàng tử đóng dinh ở Prasat, tức Sóc Trăng ngày nay, còn công chúa thì chọn khoảng đất gần chùa Âng ngày nay để dừng chân. Do không tìm được người con gái vừa ý để cưới, hoàng tử đã sang hỏi cưới em gái nhưng bị công chúa cự tuyệt vì trái luân thường. Nàng cho binh lính đắp lũy hào quanh dinh thự để ngăn bước anh trai qua quấy rối. Nàng cũng cho đào ao lấy nước ngọt dùng trong dinh và giao cho “tứ nữ cận thần”, do bà Om chỉ huy, canh gác bốn phía. Dân trong vùng tới lui lấy nước, gọi là ao Bà Om...

Hằng năm, cứ đến lễ Chol-chnam-thmay, Dolta, đặc biệt là lễ hội Cúng Trăng Ok-om-bok có rất nhiều người dân tộc Khmer và cả Kinh, Hoa ở Trà Vinh và các tỉnh lân cận tụ hội về ao Bà Om vui chơi, nhảy múa, xem hát dù kê, múa rô-băm... tạo nên nét văn hóa rất riêng của ao Bà Om, đồng thời thể hiện sự giao thoa văn hóa, sự đoàn kết, hòa hợp của ba dân tộc Kinh-Hoa-Khmer anh em. Ao Bà Om đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (cũ) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, thuộc loại hình danh lam thắng cảnh vào ngày 10-7-1994.
 
abo 10
Lễ hội Ok-Om-Bok 15 tháng 10 âm lịch diễn ra tại Ao Bà Om
 

Nguồn tin: Tổng hợp

Đánh giá:

Từ khóa: tra vinh, ao ba om

Bình luận mặc định:

Ẩn/Hiện bình luận
Mã bảo mật
Bình luận bằng facebook
Tài khoản thành viên
Khảo sát

Quý vị thấy mẫu mã sản phẩm của chúng tôi như thế nào?

Bộ đếm lượt truy cập
  •   Đang truy cập: 9
  •   Hôm nay: 2,497
  •   Tháng hiện tại: 131,825
  •   Tổng lượt truy cập: 1,049,380
Ngôn ngữ
Chọn ngôn ngữ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây