Chiếc áo bà ba nét đẹp phương Nam

Thứ hai - 30/01/2017 16:56
Kể từ khi cha ông khai phá mảnh đất phương Nam, trải qua mấy trăm năm, chiếc áo bà ba đã trở thành biểu tượng, thành tâm hồn của quê hương xứ sở.
Không biết tự bao giờ nhắc đến áo bà ba người ta nghỉ ngay đến vẻ đẹp thuần hậu, mộc mạc, dịu dàng của người phụ nữ Nam Bộ. Nếu phụ nữ đất Bắc có chiếc áo tứ thân và chiếc khăn mỏ quạ, phụ nữ Huế có tà áo dài thướt tha, thì phụ nữ Nam Bộ có chiếc áo bà ba với chiếc nón lá và chiếc khăn rằn. Bộ ba phụ kiện này đã đi kèm với nhau trở thành nét biểu trưng cho vẻ đẹp tâm hồn cũng như nét đẹp dịu dàng, mộc mạc và đằm thắm của phụ nữ Nam Bộ.
 
abb 02

abb 03

abb 04


Ngược dòng lịch sử, trở về mảnh đất Nam Bộ thuở sơ khai, cũng là tìm về gốc tích của chiếc áo bà ba. Không như người Bắc mặc váy, yếm hay áo tứ thân... bộ y phục thường ngày của người Nam Bộ thế kỷ 18 là áo ngắn và quần dài. Về sau đến thế kỷ 19 đã có sự cải tiến quan trọng cho bộ y phục ban đầu ấy thành bộ y phục thông dụng mà chúng ta thấy ngày nay đó là bộ quần áo có tên bà ba.
 
abb 05

abb 06


Có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của áo bà ba:

    + Áo bà ba xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19, được Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Penang, Mã lai (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt.
    + Lại có ý kiến cho rằng áo bà ba có những nét giống cái "áo đàn ông cổ tròn (cổ kiềng) và cửa ống tay hẹp", mà Lê Quý Đôn đã quy định cho dân từ Thuận Quảng trở vào ở cuối thế kỷ 18.
    + Một ý kiến khác cho rằng “Có thể áo bà ba ảnh hưởng, cách tân từ áo lá và áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động, là kiểu áo cứng, xẻ giữa, cài nút thắt… Áo xẻ giữa thay vì cài nút thắt đã được làm khuy, cài nút nhựa do ảnh hưởng phương Tây”.
    + Theo nhà văn Sơn Nam thì “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba”. Cụ thể hơn đó là kiểu trang phục của người “Ba Ba” - một nhóm người Hoa sống trên đảo Pinang thuộc Malaysia ngày nay.

Nhưng có điều chắc chắn là bộ bà ba không thể xuất hiện sớm hơn lúc sách "Gia Định thành thông chí" ra đời, nghĩa là vào khoảng thế kỷ 19. Tác giả Trịnh Hoài Đức đã ghi lại y phục của người Gia Định lúc bấy giờ như sau: “Gia Định là cõi phía nam nước Việt, khi mới khai thác thì có lưu dân nước ta cùng Đường nhân (chỉ người Hoa kiều). Duy có người Việt noi theo tục cũ Giao Chỉ. Hạng sĩ tử và hạng thứ dân thì búi tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay, bận thẳng, may kín hai nách..."


Một số giả thuyết trên có chỗ cần xem lại sau:

Chi tiết “áo do Trương Vĩnh Ký cách tân” có thể là sai, bởi vì trong Từ điển Pháp Việt (Dictionnaire Francais-Annamite, NXB Sài Gòn 1937) của Trương Vĩnh Ký, tác giả không hề nhắc đến “áo bà ba”, như vậy làm sao do Trương Vĩnh Ký cách tân được.

Quan điểm của nhà văn Sơn Nam có thể có chỗ chưa đúng, bởi vì không có sắc tộc nào được gọi là người Bà Ba với nghĩa “người Mã Lai lai Trung Hoa.” Trên thực tế, chỉ có người Peranakan (Trong tiếng Malaysia và Indonesia, chữ Peranakan đều có nghĩa đen là “hậu duệ”. Khái niệm người Peranakan có nghĩa là “hậu duệ của những người Trung Quốc đến định cư ở những vùng thuộc địa của Anh quốc ở Đông Nam Á.”), thường được gọi là Peranakan Chinese hay Baba-Nyonya, là hậu duệ của những người Trung Quốc nhập cư vào Malaysia từ thế kỷ 15 đến 17.

Chữ “Bà Ba” rất có thể xuất phát từ chữ “baba” (“Baba” có nguồn gốc từ ngôn ngữ Hindustani, nhóm ngôn ngữ và thổ ngữ Ấn Độ, kể cả tiếng Urdu và Hindi) trong ngôn ngữ Malaysia – một chữ vay mượn từ ngôn ngữ Ba Tư, nhưng đây là chữ dùng để gọi “người đàn ông, ông nội, ông lão, ngài,” nghĩa là dùng để chỉ nam giới chứ không phải một sắc tộc.

Từ ghép “Baba - Nyonya” cũng không phải dùng để chỉ người Bà Ba. Đây là từ dùng để gọi chung cho người Peranakan trong tiếng Malaysia (và cả tiếng Indonesia nữa). “Baba” dùng để chỉ “đàn ông,” còn Nyonya dùng để gọi “đàn bà” ở đảo Penang thời Malaysia còn là thuộc địa của Anh quốc.

Ở Malaysia, phụ nữ Peranakan có loại áo cánh khá giống với áo bà ba, gọi là “kebaya.” Ở Indonesia, người Peranakan cũng có loại áo gần giống với áo bà ba, gọi là kebaya encim (encim có nghĩa là “phụ nữ” trong tiếng Indonesia).

Tóm lại, trong những thế kỷ trước, áo bà ba đã xuất hiện ở Việt Nam. Thông qua việc buôn bán, người Việt Nam có thể đã giao lưu văn hóa với người Peranakan, cách tân kiểu áo của họ để có được áo “bà ba.”

Cái từ “bà ba” có thể có nguồn gốc từ chữ “baba” trong từ ghép Baba - Nyonya, xin nhắc lại: “bà ba không có nghĩa là người Bà Ba” như nhà văn Sơn Nam đã khẳng định.

Tuy nhiên, chúng ta phải luôn khẳng định một điều rằng dù xuất xứ như thế nào thì bộ bà ba, khăn rằn và nón lá đã kết hợp với nhau trở thành nét biểu trưng đặc sắc cho vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp văn hoá của người phụ nữ Nam Bộ.


Áo bà ba cổ điển:

Người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa thường vận bộ bà ba đen đi đồng, bởi nó vừa sạch, vừa dễ giặt giũ. Vải may là loại vải một, vải ú, vải sơn đầm... rất mau khô sau khi giặt.

Áo bà ba trước thế kỷ 20 không có túi nên bên trong đàn bà mặc thêm áo túi, một loại áo giống như áo bà ba nhưng ngắn tay dùng làm áo lót, thân áo cũng ngắn hơn và không xẻ nách, may hai túi to ở hai bên để cất món đồ vặt. Đôi khi ở nhà đàn bà cũng dùng mỗi áo túi mà không bận áo bà ba bên ngoài. Đàn ông thì mặc áo lá tương đương với áo túi của đàn bà, kích thước càng ngắn nữa, không có tay nên hở nách, hai bên bụng cũng may hai túi. Bên ngoài mặc áo bà ba. Áo túi và áo lá từ thập niên 1950 trở đi lùi dần, không còn dùng làm áo lót nữa.

Sang đầu thế kỷ 20 thì áo bà ba mới may túi ở hai vạt trước tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như thuốc rê, diêm quẹt, tiền bạc.... Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ ở hai bên hông làm cho người mặc cảm thấy thoải mái. Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái đó, chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long mặc cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi. Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu xám tro. Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt, hồng... với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa, sa tanh (satin).

Áo bà ba thường được mặc chung với quần bằng lụa hay sa tanh, thường là màu trắng hay đen, với nón lá và khăn rằn đặc trưng của miền Nam.

Quan sát kỹ chiếc áo bà ba mà nay người Hoa ở Chợ Lớn còn hay mặc, ta thấy có mấy đặc điểm sau đây: Cổ tay áo đứng cao 3 centimet, ở cổ có 3 hàng nút, thân áo xẻ giữa có 5 đến 6 nút, khuy cài nằm ngang, có 3 túi, tay áo rộng, thường được may bằng vải kẻ sọc. Còn chiếc áo bà ba mà đồng bào ta thường mặc hiện nay, chỉ có 5 hoặc 6 nút, có hai túi ở phần dưới hai vạt trước. Ngày trước, người ta thường dùng nút đồng, hay nút xương tròn nên đơm khuy dài. Về sau, người ta dùng nút bằng sứ trắng, hoặc màu, hay nút nhựa thì có khuy xẻ. Thuở chưa có vải khổ rộng nhập cảng của người Anh từ Ấn Độ đưa sang, mà nhân dân ta thường gọi bằng cái tên chung là "vải Tây", thì vật liệu may mặc lúc bấy giờ chủ yếu là vải, lụa đũi bằng tơ tằm nội địa.

Về màu sắc, phổ biến nhất trước đây là màu đen. Thời chưa có thuốc nhuộm hóa học, người ta thường dùng lá bàng, vỏ trâm bầu, vỏ dà, vỏ sú vẹt, trái mặc nưa... nhuộm rồi phủ bùn để chống thôi màu. Khi có vải nhập cảng, thì lại dùng vải ú, vải sơn đầm, vải chéo go đen, bởi vì màu này phù hợp với điều kiện lao động, đi lại nơi sông rạch, bùn lầy, dễ giặt và chóng khô.


Áo bà ba hiện đại:

Sau này, nhất là ở thời kỳ những năm 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa dân tộc, vừa đẹp và hiện đại hơn. Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, người ta còn sáng tạo các kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay, riêng các kiểu bâu (cổ) lá sen, cánh én, đan tôn... là được tiếp thu từ kiểu y phục nước ngoài.

Các kiểu ráp tay cũng được cải tiến. Từ kiểu may áo cánh xưa, liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo. Trong những năm 1970, thành thị miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo dài bà ba truyền thống. Với kiểu vai raglan này, hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Áo bà ba vai raglan chỉ cần may khít, vừa vặn với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài hơn nhưng hơi loe, có khi người ta bỏ cả hai túi ở vạt trước để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn.


Bộ bà ba hiện nay đã từng trải qua nhiều lần sửa đổi, cách tân để phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của thời đại. Ngày nay, bộ bà ba đã trở thành thứ y phục thông dụng trong cả nước, nhưng bộ bà ba đen thì ở Nam Bộ phổ biến hơn cả. Chiếc áo bà ba cắt khéo làm tôn thêm vẻ đẹp của cô gái Việt Nam có thân hình nở nang, cân đối. Chiếc áo bà ba đã đi vào thơ ca bằng hình tượng khá đẹp. Trong những năm chống Mỹ sôi sục, hình ảnh đội quân tóc dài với áo bà ba và chiếc khăn rằn Nam Bộ đã chiếm nhiều chỗ trang trọng nhất trên các trang báo ngoại quốc với những lời ca ngợi nồng nhiệt đầy chất huyền thoại.

Bộ quần áo bà ba có thể mặc đi lao động ngoài đồng, chèo ghe, mặc ở trong nhà, cả ở nơi đông người. Một số bà con nông dân, nhất là những người đứng tuổi, các cụ già thường mặc bộ bà ba trắng trong những ngày Tết, ngày lễ, trong khi tiếp khách và có xu hướng dùng nó để thay thế chiếc áo dài cùng khăn đóng.

Phụ nữ, thì ngoài màu đen còn dùng nhiều màu sắc sặc sỡ khác, xanh, đỏ, tím, vàng hay in hoa. Thường, phụ nữ nông thôn mặc quần đen là chủ yếu. Lớp thanh niên ngày nay đang có xu hướng mặc sơ mi và chiếc quần Âu bằng vải dày, có nếp, nhiều màu (thay cho màu đen đơn điệu) vừa gọn, vừa trông khỏe, phù hợp với nếp sống công nghiệp đang dần dần hình thành. Và chiếc mũ mềm trên mái tóc cắt ngắn, hoặc uốn của nữ giới, đang thay thế chiếc nón lá cồng kềnh, nhất là không phù hợp với lúc ngồi trên xe đạp, xe máy đi ngược gió, hay ở trên tàu xe.

Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế tiện lợi, lịch sử, đẹp, một xu hướng mặc theo kiểu Âu, áo sơ mi ngắn hoặc dài tay bằng vải kẻ, hoặc vải carô, quần vải dày màu sẫm đang phát triển không chỉ ở lớp thanh niên, mà cả ở người lớn tuổi, không chỉ ở nữ giới, mà cả nam giới.


Lời kết:

Nếu so với các trang phục truyền thống trong và ngoài nước, thì có lẽ áo bà ba Nam Bộ là bộ trang phục đơn giản nhất. Sự khiêm tốn này phù hợp với quan điểm sống của người Việt luôn đề cao sự giản dị, nền nã.

Áo là biểu tượng, là tâm hồn, là kết tinh của quê hương xứ sở, là hồn Việt trải qua mấy trăm năm kể từ khi cha ông ta khai phá mảnh đất phương Nam. Nhưng ngày nay cái đẹp thuần khiết ấy, những sắc màu dung dị ấy đang mai một dần đi. Cổ tròn, cổ tim hoặc cổ thìa vốn là đặc trưng của áo bà ba nhưng giờ đây dưới bàn tay biến tấu của các nhà thiết kế hoặc do sở thích cá nhân, cổ áo khi thấp, khi cao, khi trễ nải, lúc hình vuông, hình lá, lúc khoét rộng hở hang. Độ dài rộng ngắn hẹp của áo ư? Tuỳ thích! Ta biết đặc điểm của miền đất Nam Bộ là nhiều kênh rạch sông nước, thừa nắng gió nên phải chít eo và xẻ tà thấp để dù có đi làm hoặc đi chơi nắng gió sông nước chỉ đủ làm tung nhẹ tà áo mà không để làm mất đi vẻ e ấp kín đáo của người phụ nữ. Nhưng giờ đây người ta chít eo cao lên, vạt áo xe thật dài, xẻ thật cao gần về phía nách. Chắc để hở chút eo, chút lườn cho bắt mắt chăng?

Dù cuộc sống vội vã hơn, ồn ào hơn, dù thời gian có làm cho bao giá trị thay đổi đi, nhưng đó đây trên con đường thời gian đằng đẵng, người mẹ, người chị, người em vẫn mặc chiếc áo ấy như một nét hồn quê vẫn còn ẩn hiện đâu đây, vẫy gọi ta tìm về bên cõi nhớ.
 
abb 07
 
abb 08
 
abb 09
 
abb 10
 
abb 11
 
abb 12
 

Nguồn tin: Tổng hợp

Đánh giá:

Bình luận mặc định:

Ẩn/Hiện bình luận
Mã bảo mật
Bình luận bằng facebook
Tài khoản thành viên
Khảo sát

Quý vị thấy mẫu mã sản phẩm của chúng tôi như thế nào?

Bộ đếm lượt truy cập
  •   Đang truy cập: 76
  •   Máy chủ tìm kiếm: 2
  •   Khách viếng thăm: 74
  •   Hôm nay: 2,229
  •   Tháng hiện tại: 173,968
  •   Tổng lượt truy cập: 625,456
Ngôn ngữ
Chọn ngôn ngữ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây